Buồn nôn và nôn trong thai kì – Những điều cần biết

Buồn nôn và nôn ói là những triệu chứng thường gặp ở phần lớn phụ nữ trong giai đoạn đầu thai kì. Buồn nôn và nôn có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào trong ngày. Khoảng 2-4% số phụ nữ chỉ có triệu chứng vào buổi sáng và 80- 95% số thai phụ có cảm giác khó chịu cả ngày.

Buồn nôn và nôn trong thai kì - Những điều cần biết

Xem thêm:

Biểu hiện của buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Mức độ thay đổi từ buồn nôn nhẹ đến các triệu chứng đe dọa tính mạng.

  • Đa số các trường hợp chỉ xảy ra triệu chứng nhẹ, nhưng ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày của thai phụ.
  • Chứng nôn ói nhiều trong thai kì là dạng nặng nhất, các triệu chứng buồn nôn và nôn kéo dài dai dẳng gây tình trạng mất nước, ketone niệu, mất cân bằng điện giaỉ và giảm hơn 5% cân nặng so với trước lúc mang

Sinh lý bệnh học chưa được biết rõ và có thể có nhiều yếu tố ảnh hưởng :

  • Hormone : Human chorionic gonadotrophin (hCG) đạt nồng độ đỉnh trong 3 tháng đầu thai kÌ, và tăng cao trong một số tình huống có liên quan đến chứng buồn nôn và nôn trong thai kÌ (thai trứng và đa thai) [Davis, 2004]. Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên hệ chắc chắn giữa mức độ buồn nôn, nôn ói và nồng độ
  • Nồng độ oestrogen cao có liên quan đến sự gia tăng tần suất buồn nôn và nôn trong thai kÌ [ACOG, 2004; Davis, 2004].
  • Rối loạn nhu động dạ dày ruột kéo dài thời gian làm rỗng dạ dày và giảm áp lực cơ thắt thực quả
  • Rối loạn hệ thần kinh tự động có liên quan đến những biến đổi sinh lý trong thai kÌ về thể tích máu, nhiệt độ, nhịp tim và kháng lực mạch máu.
  • Thiếu dinh dưỡng : thiếu hụt vitamin B6 đã được ghi nhận ở các thai phụ [Czeizel et al, 1992] và việc sử dụng vitamin B6 trong thời kÌ mang thai giúp cải thiện mức độ buồn nôn [Jewell and Young, 2003].
  • Các yếu tố tâm lý : vài phụ nữ mang cảm xúc mâu thuẫn hoặc chối bỏ thai kÌ, nhất là nếu việc mang thai không được định trước [Davis, 2004]. Giả thuyết khác là tâm lý căng thẳng ở thai phụ có thể chuyển đổi thành các triệu chứng thực thể [Buckwalter and Simpson, 2002].
  • Bất thường chức năng gan : phụ nữ mắc chứng nôn nhiều trong thai kÌ thường có các xét nghiệm chức năng gan bất thường; tuy nhiên, điều này có thể do các bệnh lý khác gây
  • Chuyển hóa lipid : sự chậm đáp ứng của gan đối với sự gia tăng nồng độ các hormone trong thai kÌ có thể gây chứng nôn nhiều trong thai kÌ và sự dao động mức lipid và lipoproteins trong huyết
  • Nhiễm Helicobacter pylori có liên quan đáng kể đến chứng nôn nhiều trong thai kÌ [Kocak et al, 1999; Shirin et al, 2004]. Có 5 trường hợp được báo cáo có sự cải thiện các triệu chứng sau khi điều trị với erythromycin hoặc phối hợp giữa các kháng sinh và chất ức chế bơm proton hay chất đối kháng thụ thể H2 [Kuscu and Koyuncu, 2002].
  • Nồng độ thyroxine cao có liên quan đến chứng nôn nhiều trong thai kÌ. Hormone hCG, có chung tiểu đơn vị alpha với hormone TSH, tác động như chất kích thích tuyến giáp. Nồng độ hCG giảm dần cùng với chứng nôn ói khi thai kÌ tiến triể [DTB, 1995].

Buồn nôn và nôn trong thai kÌ có thể đóng một vai trò chức năng.

  • Một giả thuyết cho rằng sự gia tăng nhạy cảm với mùi là biện pháp bảo vệ tự nhiên, giúp thai phụ nhận biết rõ hơn các tác nhân độc hại trong môi trườ
  • Giả thuyết khác cho rằng duy trì nồng độ thấp của insulin trong 3 tháng đầu thai kÌ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển ban đầu của nhau [Huxley, 2000]. Hormone hCG được chứng minh có tác động lên tuyến giáp, kích thích sản xuất và phóng thích thyroxine, yếu tố giúp phát triển nhau thai. Trong khi đó, insulin được ghi nhận là ức chế sự bài tiết hCG vào 3 tháng đầu thai kÌ và do đó cản trở sự phát triển nhau thai. [Kuscu and Koyuncu, 2002; Jewell and Young, 2003; ACOG, 2004; Davis, 2004]

Tần suất của buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Buồn nôn và nôn trong thai kì - Những điều cần biết

Buồn nôn trong thai kÌ chiếm tỷ lệ 50–80% số phụ nữ mang thai; 52% số thai phụ biểu hiện các triệu chứng buồn nôn và nôn ói vào đầu thai kÌ và 28% chỉ có cảm giác buồn nôn.

Chứng nôn nhiều trong thai kÌ chiếm 0.3% – 2% tổng số thai phụ.

Sự gia tăng tần suất có liên quan đến :

  • Đa thai
  • Mẹ hay chị em gái bị buồn nôn hay nôn trong thai kÌ.
  • Có buồn nôn và nôn trong thai kÌ lần trước
  • Thai trứng
  • Chưa sanh lần nào.
  • Thai kÌ không định trước
  • Bào thai có giới tính nữ.
  • Tình trạng kinh tế – xã hội thấp
  • Tuổi của mẹ còn trẻ.
  • Biểu hiện nhân cách phụ thuộc .
  • Béo phì.
  • Tinh thần căng thẳng

Tần suất thấp hơn được ghi nhận ở những người hút thuốc và ở phụ nữ bị sẩy thai.

Chỉ số BMI thấp có liên quan đến tăng tần suất buồn nôn và nôn trong thai kÌ theo một nghiên cứu quan sát ở 41 phụ nữ [Ben-Aroya et al, 2005].[Abell and Riely, 1992; ACOG, 2004; Davis, 2004]

Các nguyên nhân khác của buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Buồn nôn và nôn trong thai kì - Những điều cần biết

Các nguyên nhân khác được xem xét nếu buồn nôn và nôn xảy ra lần đầu tiên sau 9 tuần mang thai hay nếu có sốt và đau bụng:

  • Dạ dày ruột (ví dụ nhiễm trùng, viêm ruột thừa, viêm dạ dày, viêm túi mật, loét tiêu hóa, viêm gan, viêm tụy).
  • Niệu-sinh dục (ví dụ nhiễm trùng đường tiểu, urê huyết, buồng trứng xoắn, sỏi thận, u xơ tử cung thoái hóa).
  • Tai, mǜi và họng (ví dụ viêm tai trong, bệnh Meniere, say tàu xe).
  • Chuyển hóa (ví dụ tăng calci huyết, bệnh Addison, rối loạn chuyển hóa porphyrin, đái tháo đường nhiễm ketone acid).
  • Tâm lý (ví dụ các rối loạn phản xạ ăn)
  • Thần kinh (ví dụ tổn thương tiền đình, đau nửa đầu, khối u ở hệ thần kinh trung ương)
  • Liên quan đến thai kÌ (ví dụ gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kÌ, tiền sản giật)
  • Ngộ độc hay không dung nạp thuốc (ví dụ morphine, digoxin, sắt)

Ở phụ nữ mắc chứng nôn ói nhiều trong thai kÌ và tăng nồng độ thyroxine trong máu:

  • Nếu các triệu chứng nặng hay kéo dài đến 3 tháng giữa thai kÌ, xem xét chẩn đoán bệnh Graves [DTB, 1995].
  • Bướu giáp không kèm theo chứng buồn nôn và nôn trong thai kÌ và sự hiện diện của nó có thể cho biết bệnh lý tuyến giáp nguyên phát.[ACOG, 2004; Davis, 2004]

Biến chứng của buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Đa số các trường hợp buồn nôn và nôn ói trong thai kÌ bớt dần khi thai kÌ tiến triển.

Rối loạn giấc ngủ có thể dẫn đến mệt mỏi và khó chịu [Davis, 2004].

35% số thai phụ đang làm việc cần thời gian nghỉ ngơi, họ mất trung bình 62 giờ làm việc do buồn nôn và nôn [Gadsby et al, 1993].

Trong trường hợp nặng hơn, phải nhập viện do tình trạng mất nước, giảm cân, rối loạn chất điện giải, và thiếu dinh dưỡng. Dinh dưỡng đường tƿnh mạch có thể cần thiết khi người phụ nữ tiếp tục giảm cân.

Chứng nôn ói nhiều trong thai kÌ có thể gây các biến chứng nặng, bao gồm :

  • Bệnh não Wernicke (do thiếu vitamin B1/thiamine) có thể gây tử vong mẹ hay mất chức năng thần kinh vĩnh viễ
  • Sự hủy myeline ở thần kinh trung ươ
  • Vỡ thực quản tự phát.
  • Tăng thyroxine máu tạm thời (nồng độ T4 tự do tăng và TSH giảm), có thể không gây biểu hiện lâm sàng nào.
  • Trầm cảm do chứng nôn ói nhiều trong thai kÌ, có thể gặp ở 60% số thai phụ, vài phụ nữ muốn chấm dứt thai kÌ của họ

[Kuscu and Koyuncu, 2002; ACOG, 2004; Davis, 2004]

Tiên lượng của buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Ảnh hưởng trên bào thai phụ thuộc vào mức độ triệu chứng ở mẹ. Nói chung, buồn nôn và nôn trong thai kÌ là dấu hiệu tốt của một bào thai khỏe mạnh.

  • Giảm nguy cơ sẩy thai, tần suất tử vong chu sinh và sanh non thấp hơ [Weigel and Weigel, 1989].
  • Nếu triệu chứng nghiêm trọng (rối loạn điện giải và giảm cân), có thể gia tăng nguy cơ nhẹ cân lúc [Nelson-Piercy, 1997].
  • Không có sự khác biệt về tần suất dị tật bẩm sinh [Depue et al, 1987] ở các đứa trẻ nếu người mẹ có hoặc không bị nôn ói trong giai đoạn mang

[ACOG, 2004; Davis, 2004]

Chứng nôn ói nhiều thai kÌ không liên quan đến tác động nguy hại trong thai kÌ.

  • Các nghiên cứu đã chứng minh không gia tăng tần suất biến chứng thai kÌ ở phụ nữ bị nôn ói nhiều thai kÌ, so với thai phụ không bị nôn ói.
  • Tần suất cao hơn về nhẹ cân lúc sinh ở các trẻ sinh có mẹ bị nôn ói nhiều trong thai kÌ.
  • Không có sự khác nhau về tuổi thai, sanh non, chỉ số APGAR, tử vong chu sinh và dị tật bào

[Tsang et al, 1996; Kuscu and Koyuncu, 2002; ACOG, 2004; Davis, 2004]

Điều trị buồn nôn và nôn trong thai kỳ

Buồn nôn và nôn trong thai kì - Những điều cần biết

  • Xem xét và loại trừ các nguyên nhân khác gây buồn nôn và nôn, có hoặc không liên quan đến thai kÌ.
  • Động viên tinh thần và làm cho thai phụ yên tâm đó là phản ứng bình thường của cơ thể trong thời gian mang thai.
  • Có chế độ dinh dưỡng phù hợp và thay đổi lối sống để giảm bớt triệu chứng.
  • Cố gắng nghỉ ngơi vì mệt mỏi làm tăng cảm giác buồn nôn.
  • Uống nước nhiều lần, mỗi lần một ít.
  • Ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi lần một ít, nên dùng thức ăn chứa nhiều carbohydrate và ít chất béo.
  • Tránh các bữa ăn quá nóng để phòng buồn nôn do mùi .
  • Ăn một ít bánh quy, bánh có vị gừng khoảng 20 phút trước khi rời khỏi giường.
  • Dùng viên đường trong trường hợp giảm đường huyết quá mức (mức đường huyết thấp có thể gây buồn nôn).
  • Tránh thức ăn hay mùi gây khởi phát các triệu chứng.
  • Tránh uống lạnh, ăn bánh ngọt, hay thức uống ngọt.
  • Tránh caffeine và rượu để phòng mất nước.
  • Xem xét điều trị bằng thuốc hay nhập viện nếu các triệu chứng vẫn nghiêm trọng, kéo dài và cản trở các hoạt động hàng ngày

Sử dụng đa sinh tố gần thời điểm thụ thai và trong thời gian mang thai có thể làm giảm tần suất hay mức độ các triệu chứng buồn nôn, nôn ói trong thai kÌ.

  • Một nghiên cứu ngẫu nhiên đối chứng giả dược trên 1000 phụ nữ nhằm khảo sát hiệu quả của việc bổ sung đa sinh tố đối với chứng buồn nôn và nôn trong thai kÌ [Czeizel et al, 1992]. Những phụ nữ sử dụng một chế phẩm đa sinh tố và khoáng chất (Ro 15-9473, ELEVIT prenatal®) trong ít nhất 1 tháng trước khi thụ thai và trong 3 tháng đầu thai kÌ có tần suất thấp hơn bị buồn nôn và nôn ói nặng cần phải điều trị.
  • Một nghiên cứu quan sát tiền cứu cho thấy phụ nữ sử dụng đa sinh tố vào lúc thụ thai hay trong suốt thai kÌ ít bị nôn ói hơn (40%) so với những người không dùng đa sinh tố (59%) [Emelianova et al, 2001].

Xem thêm: Omega 3 loại nào tốt | Tìm hiểu về omega 3 6 9

Thai phụ bị nôn ói nhiều cần nhập viện để được truyền dịch và chất điện giải, đồng thời bổ sung các vitamin. Hỗ trợ dinh dưỡng (nuôi ăn qua dạ dày hay tƿnh mạch) cho những phụ nữ có triệu chứng không kiểm soát được và bị giảm cân nhiều sau khi đã áp dụng biện pháp trị liệu thích hợp.

Ds. Nguyễn Thị Thúy Anh Phòng Dược Lâm Sàng, Thông Tin Thuốc – Bv Từ Dũ

Bài viết liên quan:

Bài viết khác:

Ý kiến của bạn

*